Huế, ngày 21 tháng 9 năm 2014

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTXH HUYỆN PHÚ LỘC ĐẾN NĂM 2010

I. Mục tiêu phát triển chủ yếu

1. Về kinh tế

Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng trưởng cao, hiệu quả và ổn định, phấn đấu đến năm 2010 GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,5 lần năm 2000. Nhịp độ tăng GDP qua các thời kỳ như sau:

Các ngành

Đơn vị

2000

2005

2010

  Tổng sản phẩm (GDP, % )

%

8,34

10,0

12,0

  Công nghiệp - Xây dựng

%

5,51

15,0

18,0

  Nông - Lâm - Thủy sản

%

3,9

4,5

5,0

  Dịch vụ

%

17,7

14,53

15,01

Cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng mở rộng du lịch, thương mại, dịch vụ. Dự kiến cơ cấu các ngành theo phương án chọn như sau:

Các ngành

Đơn vị

2000

2005

2010

  Cơ cấu kinh tế theo GDP (Giá hiện hành)

%

100,0

100,0

100,0

  Công nghiệp - Xây dựng

%

11,2

14,5

17,8

  Nông - Lâm - Thủy sản

%

50,1

30,7

20,1

  Dịch vụ

%

38,6

54,8

62,1

2. Về xã hội

Đáp ứng vững chắc các nhu cầu cơ bản cho nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần. Tăng cường công tác y tế cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Phấn đấu giảm mạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em. Ngăn chặn kịp thời các dịch bệnh, thanh toán bệnh bại liệt. Nâng cao tuổi thọ trung bình cho nhân dân, sau 5 năm tăng thêm 1 tuổi. Đưa tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 25% vào năm 2005 và 30% vào năm 2010. Một số mục tiêu xã hội chủ yếu như sau:

Các ngành

Đơn vị

2005

2010

Về giáo dục

Số xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS/tổng số xã thị trấn

%

100

100

Số xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THPT/tổng số xã thị trấn

%

40-50

80

Về dân số

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

%

1,5

1,3

Về nước sạch, vệ sinh môi trường

Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch

%

80

95

Tỷ lệ số hộ sử dụng điện

%

85

100

Về chăm sóc bảo vệ sức khoẻ

Số bác sĩ /1 vạn dân

bác sĩ

4-5

7-8

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng

%

<25

<20

Về xoá đói giảm nghèo

 Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo

%

< 10

Cơ bản xóa hộ nghèo

3. Về môi trường

Thực hiện phương châm bảo vệ thiên nhiên, đa dạng hoá sinh học và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao.

Xử lý các vấn đề về môi trường. Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường sinh thái, chú trọng các tuyến, điểm du lịch, đô thị mới Chân Mây - Lăng Cô và các trung tâm thị trấn, thị tứ. Ngăn chặn việc phá hoại tài nguyên môi trường và gây ô nhiễm, phát triển nông lâm kết hợp, đưa độ che phủ rừng lên 60-65% năm 2010.

II. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực

1. Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp

Phấn đấu giá trị sản xuất nông-lâm-thuỷ sản tăng bình quân 5,1% thêi kú 2001-2005 và 5% thời kỳ 2006-2010.

Đẩy mạnh phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa thủy sản, kinh tế rừng, cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi.

a. Nông nghiệp

- Cây lúa: Ổn định diện tích gieo trồng lúa cả năm khoảng 7.000 ha. Xây dựng vùng lúa năng suất, chất lượng cao trên địa bàn các xã nằm dọc đường quốc lộ 1A (Lộc Bổn, Lộc Sơn, Lộc An, Lộc Điền) với diện tích khoảng 2.500 ha.

- Cây màu lương thực: Phát triển diện tích sắn 800-900 ha cung cấp nguyên liệu cho cơ sở chế biến sắn công nghiệp. Ổn định diện tích khoai các loại khoảng 450 - 500 ha, chủ yếu sử dụng các loại giống mới cho năng suất cao, nhiều tinh bột. Mở rộng diện tích ngô lên 150 ha vào năm 2005 và khoảng 300 ha vào năm 2010.

- Cây thực phẩm và rau quả: Xây dựng một số vùng rau chuyên canh, rau sạch ở những vùng có điều kiện thuận lợi với diện tích gieo trồng khoảng 600-800 ha  ở Vinh Mỹ, Vinh Giang, Lộc Sơn, Lộc Tiến, Lộc Thủy và ven các thị trấn. Diện tích trồng cây ăn quả đặc sản ở Lộc An, Lộc Điền, Lộc Hòa, Xuân Lộc từ 700-800ha.

- Cây công nghiệp ngắn ngày: Chuyển một số diện tích mía sang trồng lạc, mở rộng diện tích lạc lên 1.000 ha.

- Cây công nghiệp dài ngày: Dự kiến đến năm 2005 trên địa bàn huyện có 500 ha cao su, năm 2010 mở rộng diện tích lên khoảng 1.000 - 1.500ha ở vùng gò đồi Xuân Lộc, Lộc Hoà. Cây tiêu chủ yếu trồng trên vùng đất gò đồi, miền núi như Lộc Bổn, Lộc Sơn, Xuân Lộc với diện tích khoảng 300 ha vào năm 2005 và 500 ha vào năm 2010.

- Chăn nuôi: Phấn đấu giá trị sản lượng ngành chăn nuôi đạt nhịp độ tăng 7,53% thời kỳ 2001-2005; đạt 4,63% thời kỳ 2006-2010. Đàn trâu tăng bình quân 2,0-2,3%/năm, đàn bò tăng 3,2-4,0%, đàn lợn tăng 4,0% và đàn gia cầm tăng 4,6-4,8%/năm. Từng bước phát triển ngành chăn nuôi tương xứng trồng trọt, đưa tỉ trọng chiếm 36-37% giá trị sản lượng nông nghiệp.

b. Lâm nghiệp

Tập trung bảo vệ, phục hồi diện tích rừng tự nhiên, đặc biệt là vùng rừng sinh thái - vườn quốc gia Bạch Mã. Đẩy mạnh trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển và rừng đặc dụng, đặc biệt rừng phòng hộ Bắc Hải Vân.  Hình thành một số vùng rừng kinh tế tập trung phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản. Thời kỳ 2001-2010 khai thác, chế biến diện tích đã có 20.000ha; khôi phục rừng tự nhiên khoảng 2.000 ha, trồng mới rừng khoảng 4.500 ha. Nâng độ che phủ rừng chung toàn huyện lên 60-65% vào năm 2010.

c. Thủy sản

- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng về giá trị sản lượng 14,54% thời kỳ 2001-2005 và 7,12% thời kỳ 2006-2010.

- Tăng cường đánh bắt xa bờ, đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện tàu thuyền, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong khâu đánh bắt, bảo quản, chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Xây dựng một số cảng cá, bến cá, nơi neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt hầu cần nghề cá. Gắn chương trình đánh bắt, khai thác biển với kế hoạch đào tạo kỹ thuật cho lao động nghề cá.

- Đẩy mạnh phát triển ngành nuôi trồng thủy sản kết hợp hài hoà với phát triển du lịch với bảo vệ môi trường sinh thái biển và đầm phá. Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2005 đạt khoảng 1340 ha, năm 2010 đạt 1700-1800 ha. Xây dựng một số vùng nuôi thuỷ sản nước lợ cao triều ở các xã Vinh Hưng, Vinh Giang, Vinh Hiền, vùng nuôi chuyên canh nước ngọt, vùng chuyên canh nhuyễn thể, vùng chuyên canh sản xuất thủy sản ở các xã ven biển, đầm Cầu Hai. Tập trung phát triển loại hình nuôi thâm canh và bán thâm canh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng nâng suất và chất lượng thủy sản.

2. Phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng Công nghiệp - Xây dựng bình quân hàng năm trong thời kỳ 2001-2005 đạt 15,0%, thời kỳ 2006-2010 tăng 16,5%. Đến năm 2010 thu hút 8.930 người vào hoạt động Công nghiệp - Xây dựng, tăng 3.700 người so năm 2000, chiếm 8% lao động xã hội.

- Trong giai đoạn 2001-2010 tập trung phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản, chế biến nông, lâm sản, công nghiệp khai thác đá và sản xuất vật liệu xây dựng.

- Đầu tư xây dựng mới một số cơ sở chế biến mới có qui mô vừa và nhỏ. Xây dựng nhà máy chế biển hải sản xuất khẩu ở thị trấn Phú Lộc. Phấn đấu đến năm 2005 đưa hải sản chế biến đạt 25%, năm 2010 đạt 40% tổng sản lượng.

- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản tương ứng với khả năng nguồn nguyên liệu nông lâm sản tại địa phương trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Huyện. Tập trung vào phát triển các cơ sở xay xát lúa gạo, hoa màu, chế biến lạc, chế biến mủ cao su, chế biến gỗ, chế biến thức ăn gia súc, nuôi trồng thủy sản. Khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống chế biến lương thực thực phẩm (làm bún, bánh, đậu phụ, sản xuất bánh kẹo, mộc dân dụng, …).

- Mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở công nghiệp khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng. Xây dựng nhà máy gạch tuynel với công suất 10 triệu viên/năm, xí nghiệp khai thác đá với công suất 75.000 m3/năm.

- Phát triển các cơ sở dịch vụ sửa chữa điện dân dụng, điện tử, điện lạnh ở các thị trấn, thị tứ, vùng dân cư tập trung đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân cư và hỗ trợ tích cực cho các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Khuyến khích các thành phần kinh tế xây dựng mới các cụm dịch vụ sửa chữa, đóng mới các phương tiện vận tải thủy ở các vùng ven biển, cửa lạch. Phát triển các cơ sở cơ khí sửa chữa máy nông-lâm nghiệp, phương tiện cơ giới thô sơ, sản xuất nông cụ cầm tay, sản xuất đồ gia dụng phục vụ sản xuất và sinh hoạt dân cư.

- Hình thành một số cụm công nghiệp ở thị trấn Phú Lộc, thị trấn Lăng Cô; cụm công nghiệp La Sơn, Vinh Hưng, Vinh Hiền và Khu công nghiệp tập trung Chân Mây.

3. Phát triển các ngành dịch vụ

Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất khối dịch vụ đạt 17,5% thời kỳ 2001-2005 và 18,0% thời kỳ 2006-2010. Trong cơ cấu kinh tế các ngành, khối dịch vụ chiếm 47,7% năm 2005 và 54,5% vào  năm 2010.

-  Đẩy mạnh phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển đa dạng các loại hình du lịch nhằm khai thác tổng hợp các tiềm năng thế mạnh về du lịch, tập trung đẩy mạnh đầu tư phát triển một số khu du lịch trọng điểm của Huyện như:

Khu du lịch biển Cảnh Dương- Lăng Cô - Bắc Hải Vân - Đảo Sơn Chà: Cần nhanh chóng nâng cấp và xây dựng ở đây cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, cung cấp nước; xây dựng một số khách sạn, nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi, các khu vui chơi giải trí phong phú, phát triển các nhà hàng, các loại hình dịch vụ đa dạng nhằm hấp dẫn và thu hút du khách.

Khu du lịch sinh thái Bạch Mã: Tiếp tục đầu tư nâng cấp tuyến đường lên Bạch Mã, khôi phục nhanh các biệt thự, nhà nghỉ và nâng cấp mạng lưới đường nối giữa các biệt thự và các điểm du lịch trong nội bộ khu như đường tới thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, các cánh rừng nguyên sinh; phát triển các loại hình vui chơi giải trí hấp dẫn, đa dạng hóa các dịch vụ nhằm thu hút khách và tăng thêm thời gian lưu trú của khách.

Từng bước đầu tư khai thác các điểm du lịch vệ tinh khác như điểm du lịch biển Đông-Linh Thái-Túy Vân, du lịch Nhị Hồ, Suối Tiên, Suối Voi, Bắc đèo Hải Vân nhằm thu hút du khách nội địa và các vùng lân cận.

Trùng tu tôn tạo một số di tích lịch sử, văn hoá như chùa cổ Thánh Duyên, làng dân tộc Vân Kiều nhằm từng bước đưa vào khai thác du lịch.

- Qui hoạch xây dựng và nâng cấp hệ thống các chợ nông thôn, các điểm thu mua và trao đổi hàng hóa ở các tiểu vùng, đặc biệt là ở vùng miền núi, ven biển. Tăng cường vai trò của các cơ sở thương nghiệp nhà nước và khuyến khích phát triển cơ sở thương mại tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và phục vụ sinh hoạt đời sông dân cư.

Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển Khu khuyến khích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây - Lăng Cô thành khu thương mại tự do. Nâng cấp và mở rộng khu Trung tâm thương mại Chân Mây và chợ thị trấn Phú Lộc thành các trung tâm thương mại huyện. Mở rộng thị trường giao lưu hàng hoá với các vùng lân cận, đặc biệt là với 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Tìm kiếm và mở rộng thị trường lưu thông hàng hoá và xuất khẩu.

- Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bao gồm vận tải hàng hoá và hành khách, dịch vụ kỹ thuật phục vụ nông, lâm, thủy sản; bưu chính, viễn thông; thông tin liên lạc; tài chính ngân hàng phục vụ phát triển sản xuất; mở rộng các dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tạo môi trường hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước đến thăm quan, nghỉ dưỡng.

4. Phát triển các lĩnh vực xã hội

Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo; từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng công tác giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội nhằm cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

- Đến năm 2005 không còn hộ đói, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn dưới 10% và năm 2010 cơ bản không còn hộ đói nghèo.

- Giáo dục-đào tạo: Giữ vững kết quả phổ cập tiểu học cho trẻ em trong độ tuổi đi học, đảm bảo 100% học sinh tiểu học và nâng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở được học 2 buổi/ngày. Tiến đến phổ cập trung học cơ sở cho 100% dân số trong độ tuổi 15-20 vào năm 2004.

- Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: phấn đấu đến năm 2005, 100% số trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ và nữ hộ sinh trung học hoặc y sỹ sản nhi. Bổ sung thêm các chức danh y học cổ truyền, dược cho tuyến xã. Đến năm 2010 có 7 bác sĩ và 22 giường bệnh trên 1 vạn dân, 50% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia. Giảm tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống 23% vào năm 2005 và đến năm 2010 cơ bản không còn tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng vì thiếu đói. Bảo đảm 95% số hộ được dùng nước sạch vào năm 2010.

- Văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao: Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá. Phấn đấu đến năm 2007 có 100% số làng đạt tiêu chuẩn làng văn hoá. Xây dựng một số điểm văn hoá liên vùng, liên xã như ở Lộc An, Lộc Tiến, Vinh Hưng.

Qui hoạch xây dựng các sân vận động để đến năm 2010 tất cả các xã đều có sân vận động, câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở. Đầu tư xây dựng nhà thi đấu thể thao trung tâm, nâng cấp sân vận động Huyện, các cơ sở thể dục thể thao ở đô thị mới Chân Mây.

Phát triển mạng lưới truyền thanh các xã, thị trấn, đến năm 2005 có 100% số xã và thị trấn có hệ thống truyền thanh. Xây dựng thư viện trung tâm Huyện phục vụ nghiên cứu và hưởng thụ văn hoá của dân cư.

Tiếp tục bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh. Tuyên truyền, giáo dục nhân dân trân trọng và phát huy các giá trị về văn hóa lịch sử, phong tục tập quán lành mạnh.

5. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu 

- Giao thông. Nâng cấp các đoạn đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua huyện như QL1A, QL 49B, tỉnh lộ 14B, đường quốc phòng Lộc Bình. Xây dựng mới đường hầm đèo Phú Gia, Phước Tượng. Xây dựng cầu Tư Hiền, mở các tuyến đường ngang từ QL49B ra biển. Ưu tiên nâng cấp và xây dựng mới một số tuyến vào các khu vực trọng điểm như đường đi khu du lịch Bạch Mã, đường ven biển nối Vinh Hiền-Cảnh Dương-Chân Mây, đường Chân Mây-Lăng Cô, xây dựng đường ven đầm Lập An, xây dựng một số tuyến giao thông ngang từ quốc lộ 1A đến một số điểm du lịch như thác Nhị Hồ, Suối Tiên, Suối Voi-Bàu Ghe... nhằm khai thác tốt các tiềm năng thế mạnh của huyện. Qui hoạch, nâng cấp và mở thêm một số tuyến giao thông nội thị của thị trấn Phú Lộc và khu vực Chân Mây, Lăng Cô. Mở rộng và từng bước cấp phối hóa giao thông nông thôn để đến năm 2010 đảm bảo giao thông thông suốt trên địa bàn toàn huyện trong cả mùa mưa lũ.

Tiếp tục hoàn thiện các công trình bến bãi, kho tàng, phương tiện bốc dỡ và công trình dịch vụ khác kèm theo nhằm khai thác hiệu quả cảng Chân Mây. Nâng cấp các tuyến đường thủy đã có và hình thành tuyến giao thông thuỷ từ Chân Mây đến Thuận An nối với thành phố Huế.

- Thuỷ lợi: Tiếp tục xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kênh mương hạ du hồ Truồi. Xây dựng hồ chứa nước Thuỷ Yên, Thủy Cam, kè bờ biển Vinh Hiền, xây dựng đê, kè, cống ngăn mặn, kéo đường ống dẫn nước từ hồ Truồi về khu 3 phục vụ sản xuất và sinh hoạt dân cư. Phấn đấu đến năm 2010, cơ bản hoàn thành kiên cố hóa hệ thống thủy lợi cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

- Cấp nước: Kiên cố hệ thống cấp nước Boghe, xây dựng mới nhà máy nước Lộc Thuỷ công suất 21.000 m3/ngày/đêm, sau đó mở rộng lên 80.000 m3/ngày/đêm đảm bảo đủ cung cấp nước cho đô thị Chân Mây và các thị trấn của huyện. Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư của các chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường và khuyến khích nhân dân tự bỏ vốn để xây dựng các công trình giếng bơm, giếng đào, nước nguồn dẫn về qua lắng lọc khử trùng nhằm cung cấp nước sạch cho các vùng nông thôn, vùng miền núi, ven biển. Đến năm 2010 đảm bảo cho 95% dân số được sử dụng nước sạch.

- Mạng lưới cấp điện: Xây dựng tuyến đường dây 35KV đến đỉnh vườn quốc gia Bạch Mã, đường điện cao thế ven phá phục vụ các dự án nuôi trồng thuỷ sản. Mở rộng mạng lưới điện cho thị trấn Lăng Cô, khu đô thị mới Chân Mây. Tiếp tục đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng lưới điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt hiện có, phấn đấu đến năm 2005 có 85% số hộ được dùng điện và năm 2010 đạt 100% số hộ dùng điện. 

- Bưu chính viễn thông: Tiếp tục mở rộng và hiện đại hoá mạng lưới bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc trong nước và quốc tế nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nâng mật độ điện thoại bình quân trên 100 dân lên 4 - 5 máy vào năm 2005 và 8 - 10 máy vào năm 2010.

- Vấn đề vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường: Áp dụng đồng bộ các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái, tập trung chống ô nhiễm nguồn nước, vệ sinh môi trường ở các điểm du lịch. Xây dựng khu xử lý chất thải rắn phục vụ khu Lăng Cô - Chân Mây và vùng phụ cận; trạm xử lý nước thải ở Lăng Cô. Từng bước qui hoạch các bãi xử lý rác thải rắn ở thị trấn, các điểm dân cư tập trung, các chợ, nhất là vùng chợ ở các thị trấn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong nhân dân về ý thức bảo vệ môi trường và vệ sinh môi trường sống.

6. Phát triển mạng lưới đô thị 

Trong giai đoạn 2001-2010, mạng lưới đô thị và các điểm dân cư tập trung trên địa huyện Phú Lộc bao gồm 4 thị trấn: Phú Lộc, Lăng Cô, La Sơn, Vinh Hưng và thành phố mới Chân Mây.

- Thị trấn Phú Lộc: Chức năng chính là trung tâm hành chính - kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện. Ngành sản xuất chính là công nghiệp chế biến lương thực, thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, là trung tâm thương mại, dịch vụ du lịch hỗ trợ cho khu đô thị mới Chân Mây và khu du lịch Bạch Mã. Dự kiến đến năm 2010, dân số đô thị có khoảng 15.000 người.

- Thị trấn La Sơn: Là trung tâm kinh tế - xã hội của cụm 3 xã phía Bắc huyện (Lộc Bổn, Lộc Sơn và Lộc An). Ngành sản xuất chủ đạo là công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản, sửa chữa điện tử, điện dân dụng, may thêu, là điểm công nghiệp vệ tinh cho khu công nghiệp Phú Bài và thành phố Huế. Dự kiến dân số đô thị năm 2010 khoảng 5.000 người.

- Thị trấn Lăng Cô: Là trung tâm tiểu vùng các xã cực nam của Huyện. Ở đây phát triển mạnh các ngành du lịch, thương mại, dịch vụ và một số ngành công nghiệp phục vụ du lịch như chế biến lương thực, thực phẩm, thủy hải sản, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, các sản phẩm lưu niệm. Dự kiến dân số đô thị năm 2010 khoảng 2 vạn người.

- Thị trấn Vinh Hưng: Đây là trung tâm tiểu vùng 3 của 5 xã ven biển huyện Phú Lộc, là điểm đô thị động lực của vùng các xã ven biển của hai huyện Phú Lộc và Phú Vang. Các ngành kinh tế chủ đạo là công nghiệp chế biến thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Dự kiến đến năm 2010 dân số đô thị khoảng 5.000 người.

- Thành phố Chân Mây: Thành phố Chân Mây được hình thành trên cơ sở khai thác lợi thế cảng biển nước sâu Chân Mây. Ở đây sẽ hình thành khu công nghiệp tập trung với các ngành công nghiệp phục vụ cảng, khu thương mại tự do. Tổng diện tích tự nhiên của đô thị khoảng 6.000 ha. Qui mô dân số đến năm 2010 khoảng 5 vạn người, năm 2020 khoảng 15 vạn người.

III. Các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo

1. Tất cả các vùng: ven biển, đồng bằng, miền núi đều phải được phát triển, tuy nhiên sẽ có thứ tự ưu tiên, có khu vực tập trung đầu tư phát triển trước, có khu vực phát triển sau. Giảm khó khăn cho các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, không để có những khu vực tụt lại quá xa so với mức phát triển chung của toàn Huyện. Đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư để góp phần bảo đảm cho nền kinh tế của Huyện phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả và ổn định.

2. Phát huy tối đa nội lực, khai thác các lợi thế so sánh của huyện, tranh thủ các cơ hội bên ngoài, tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn vốn đầu tư, tăng cường liên doanh, liên kết nhằm thúc đẩy mạnh phát triển khu vực ven biển, đồng bằng đi trước một bước, từng bước chuyển mạnh sang hướng khai thác và phát triển kinh tế biển, du lịch và dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hình thành các sản phẩm chủ lực, các ngành và sản phẩm có lợi thế so sánh của huyện.

3. Tuỳ theo điều kiện và trên cơ sở tính toán hiệu quả Kinh tế - Xã hội, phải chú ý phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề; phát triển dịch vụ để chuyển bớt lao động và nhân khẩu sang sinh sống bằng những nghề phi nông nghiệp.

4. Phát triển các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo ra bước chuyển biến đáng kể về bộ mặt Kinh tế - Xã hội và đời sống nhân dân trên cơ sở tích cực hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho các khu vực này vươn lên.

5. Xây dựng xong về cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng (nhất là các trục giao thông dọc - ngang, cảng biển, bưu chính-viễn thông) để phát huy tốt nhất các tiềm năng, thế mạnh của mỗi khu vực và giao lưu kinh tế của huyện với bên ngoài.

6. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc.

7. Phải gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái. Coi trọng các giải pháp phòng tránh thiên tai để giảm thiểu thiệt hại về người và của cho nhân dân.

IV. Những giải pháp chủ yếu

1. Giải pháp huy động vốn đầu tư

- Thực hiện thu chi ngân sách hợp lý, thực hành tiết kiệm để tăng tích luỹ, chủ động nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phấn đấu hàng năm dành từ 10-15% ngân sách Huyện để đầu tư cho công trình sự nghiệp và hạ tầng đô thị. Tranh thủ sự hỗ trợ từ các nguồn ngân sách Nhà nước cấp trên cho xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết xoá đói giảm nghèo, các công trình phúc lợi công cộng, giao thông đô thị v.v..

- Huy động nguồn lực trong nhân dân, các cơ quan đơn vị trên địa bàn theo phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường, trồng cây xanh và các công trình công cộng khác.

- Tạo môi trường đầu tư thông thoáng để đẩy mạnh thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong tỉnh, các doanh nghiệp trong và ngoài nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế.

- Phát triển chi nhánh ngân hàng liên xã, thành lập các quỹ tín dụng nhân dân với mục tiêu hỗ trợ vốn cho phát triển sản xuất để hình thành các vùng sản xuất hàng hoá.

2. Phát triển nguồn nhân lực

- Đổi mới chính sách tổ chức, thông qua công việc để lựa chọn, bố trí, sử dụng  phát huy tốt năng lực nội tại của đội  ngũ cán bộ, chuyên viên, lao động trong bộ máy Nhà nước và trong xã hội.

- Coi trọng công tác Giáo dục - Đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nhân tài trong hàng ngũ cán bộ, nhân viên công tác quản lý Nhà nước và quản lý kỹ thuật. Có qui hoạch, đào tạo để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trên các lĩnh vực Kinh tế, Chính trị, Xã hội, Quản lý doanh nghiệp.

- Chú trọng đào tạo lực lượng lao động một cách thiết thực và cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hội nhập quốc tế. Dành phần đầu tư thích đáng để tăng cường đào tạo lực lượng lao động cao cấp cho tổ chức sản xuất kinh doanh, lao động kỹ thuật bằng kết hợp đào tạo kiến thức quản lý kinh tế, kỹ năng nghiệp vụ với bồi dưỡng nhận thức pháp luật, tri thức đạo đức xã hội, kỷ luật lao động.

- Phối hợp với các trường đại học, trung tâm dạy nghề, các cơ sở sản xuất xây dựng chương trình đào tạo và khuyến khích, thu hút người lao động trên địa bàn tham gia vào các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng lao động đối với những ngành nghề mà địa phương đang cần hoặc có khả năng phát triển.

3. Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới quản lý

- Phát triển Kinh tế - Xã hội của Huyện đòi hỏi phải chú trọng thích đáng đến khoa học - kỹ thuật phục vụ cho các ngành sản xuất, công, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thu hút nhân tài để phục vụ cho nhu cầu phát triển.

- Nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, chuyển giao công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp và các hộ nông dân ứng dụng tiến bộ Khoa học - Kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh. Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực Khoa học - Kỹ thuật Công nghệ, tổ chức tốt hệ thống thông tin. Tăng cường mối liên hệ giữa khoa học công nghệ với sản xuất và thị trường trong và ngoài nước.

4. Phát triển các thành phần kinh tế

- Tổ chức thực hiện tốt Luật Doanh nghiệp, Luật HTX, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài. Mở đường phát triển các loại hình kinh tế, tận dụng nhân lực, vật lực, tài lực đầu tư vào sản xuất  kinh doanh, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của huyện, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo thêm việc làm và thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.

- Phát huy vai trò của chính quyền, cơ quan Nhà nước giúp các đơn vị, thành phần kinh tế tổ chức liên doanh, liên kết, hỗ trợ, hợp tác sản xuất kinh doanh trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi. Khuyến khích phát triển nghề và làng nghề. Tạo điều kiện cho các cá nhân và gia đình chủ động mở nghề, lập nghiệp có sự hỗ trợ và quản lý của các tổ chức và chính quyền địa phương.

- Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tìm kiếm, khai thác thị trường mới cho các sản phẩm của địa phương.

5. Tổ chức thực hiện quy hoạch

Căn cứ vào Qui hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội huyện Phú Lộc đến năm 2010 được phê duyệt, UBND huyện Phú Lộc cần tổ chức thực hiện và vận dụng đồng bộ các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm phát huy cao nhất tiềm năng và nguồn lực của huyện, của tỉnh và Trung ương cho đầu tư phát triển.

Trên cơ sở qui hoạch này, UBND huyện cần nghiên cứu xây dựng các qui hoạch chi tiết, các chương trình phát triển Kinh tế - Xã hội, các dự án ưu tiên đầu tư và từng bước đưa vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm để tổ chức thực hiện.

 
    
Chịu trách nhiệm nội dung: Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế
Tư vấn và phát triển: Công ty cổ phần Eureka