Huế, ngày 19 tháng 4 năm 2014

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTXH HUYỆN QUẢNG ĐIỀN ĐẾN NĂM 2010

I. Mục tiêu phát triển chủ yếu

1.Về kinh tế

Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng trưởng cao, hiệu quả và ổn định. Đến năm 2010 GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,0 lần năm 2000. Nhịp độ tăng trưởng qua các thời kỳ như sau:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Nhịp độ tăng trưởng bình quân

2001-2005

2006-2010

2001-2010

  GDP

%

8,50

10,00

9,25

  Công nghiệp - Xây dựng

%

17,00

20,00

18,50

  Nông lâm ngư

%

5,50

5,00

5,25

  Dịch vụ

%

12,10

13,22

12,65

Cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành Công nghiệp - Xây dựng, Dịch vụ. Dự kiến cơ cấu các ngành theo phương án chọn như sau: 

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2010

  Cơ cấu kinh tế theo GDP (giá TT)

%

100,0

100,0

100,0

  Công nghiệp - Xây dựng

%

9,3

13,2

18,9

  Nông - Lâm - Ngư

%

65,9

57,3

47,5

  Dịch vụ

%

24,8

29,5

33,6

2. Về xã hội

Đáp ứng vững chắc các nhu cầu cơ bản cho nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần. Tăng cường công tác y tế cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Phấn đấu giảm mạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em. Ngăn chặn kịp thời các dịch bệnh, thanh toán bệnh bại liệt. Đưa tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 25% vào năm 2005 và 30% vào năm 2010. Một số mục tiêu xã hội chủ yếu như sau:

Các ngành

Đơn vị

2005

2010

  Về giáo dục

  Số xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS/tổng số xã thị trấn

%

100

100

  Số xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THPT/tổng số xã thị trấn

%

40-50

90

Về dân số

  Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

%

1,45

1,3

  Về nước sạch, vệ sinh môi trường:

  Tỷ lệ số hộ sử dụng nước sạch

%

75

95

  Tỷ lệ số hộ sử dụng điện

%

95

100

Về chăm sóc bảo vệ sức khoẻ:

  Số bác sĩ /1 vạn dân

bác sĩ

3-4

5-6

  Tỷ lệ trẻ em d­ưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng

%

<25

<20

Về xoá đói giảm nghèo

  Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo

%

< 7

Cơ bản xóa hộ nghèo

3. Về môi trường

Thực hiện phương châm bảo vệ thiên nhiên, đa dạng hoá sinh học và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao.

Công tác bảo vệ môi trường sinh thái cần tiếp tục được đẩy mạnh, thực hiện canh tác nông nghiệp theo hướng bền vững. Ngăn chặn việc phá hoại tài nguyên môi trường và gây ô nhiễm,phát triển nông lâm kết hợp. Phấn đấu trước năm 2005 ổn định định canh cho đồng bào ở các xã bị biển xâm thực.

II. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực

1. Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp

Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm bình quân 5,0-5,25% thời kỳ 2001-2010. Đưa tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp trong tổng GDP toàn huyện khoảng 57,3% năm 2005 và khoảng 47- 48% năm 2010.

a. Nông nghiệp

- Ổn định diện tích trồng lúa 7.500 ha, đưa các giống lúa có năng suất cao vào sản xuất sớm hình thành thương hiệu gạo hàng hoá chất lượng cao của địa phương, Phấn đấu đạt sản lượng lương thực cây có hạt từ 35,7 đến 37,5 nghìn tấn (trong đó thóc 35,5 đến 37,2 nghìn tấn) vào năm 2005 và 41,5 đến 45,5 nghìn tấn (trong đó thóc 41,2 đến 45,3 nghìn tấn) vào năm 2010; tăng diện tích gieo trồng cây thực phẩm lên 700 ha vào năm 2010; phấn đấu đến năm 2010 đạt diện tích lạc 1200-1.300 ha.

- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi thành ngành chính, chiếm tỉ trọng 37-40% trong cơ cấu nông nghiệp.

b. Lâm nghiệp

Bảo vệ nghiêm ngặt vốn rừng hiện có, trồng mới mỗi năm khoảng 100-150 ha rừng tập trung, 40-50 vạn cây phân tán, phấn đấu đưa diện tích rừng trồng toàn huyện năm 2010 lên 2000-2500 ha.

c. Thủy sản

- Dự kiến tổng sản lượng thuỷ hải sản đến năm 2005 đạt khoảng 4.700 tấn (tăng bình quân 11,2% giai đoạn 2001-2005), năm 2010 đạt khoảng 6.800 tấn (tăng bình quân 7,6% giai đoạn 2006-2010). Trong đó khai thác biển khoảng 2.500 tấn năm 2005 và 3.200 năm 2010, khai thác sông đầm đạt 1.000 tấn năm 2005 và 1.300 tấn năm 2010.

- Mở rộng diện tích nuôi trồng lên khoảng 980 ha vào năm 2005 (trong đó nuôi nước ngọt 160ha) và 1330 ha vào năm 2010 (nuôi nước ngọt 360 ha). Phấn đấu đạt  sản lượng nuôi trồng thủy sản khoảng 1.200 tấn năm 2005 (tăng bình quân 36,6% giai đoạn 2001-2005) và 2250 tấn năm 2010 (tăng bình quân 14,1% giai đoạn 2006-2010).

2. Phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

Phấn đấu giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân hàng năm 16-17% giai đoạn 2001-2005 và 17-20% giai đoạn 2006-2010, nâng tỉ trọng GDP ngành công nghiệp trong GDP của huyện lên 13% vào năm 2005 và 19% vào năm 2010.

- Ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản: Phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản thành ngành công nghiệp mũi nhọn của huyện tương ứng với khả năng nguồn nguyên liệu  ở địa phương, đặc biệt chú trọng công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc và nuôi tôm, rau quả tươi chế biến, hải sản sấy khô.

- Ngành công nghiệp cơ khí: Tập trung đầu tư phát triển các cơ sở sửa chữa tàu thuyền, sửa chữa máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Tăng năng lực cơ giới sản xuất nông nghiệp, đến năm 2010 tỷ lệ lao động cơ giới trong khâu làm đất đất đạt 90%, gặt đạt 70% và vận chuyển đạt 60%.

- Ngành tiểu thủ công nghiệp: Phục hồi, phát huy các ngành nghề truyền thống, trong đó đặc biệt chú ý đến các nghề điêu khắc, mộc mỹ nghệ,  thêu ren, đan lát, chằm nón... Hình thành một số cụm công nghiệp làng nghề.

3. Phát triển các ngành dịch vụ

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm GDP ngành dịch vụ giai đoạn 2001-2005 là 12%, trong giai đoạn 2006- 2010 là 11-13%, đưa tỉ trọng ngành dịch vụ trong GDP toàn huyện năm 2005 là 29,5%, năm 2010 là 33,6%.

- Du lịch: Tập trung đầu tư khai thác các điểm du lịch như: khu sinh thái ngập nước (tràm chim Ô Lâu), khu tắm biển, nghỉ dưỡng Quảng Công - Quảng Ngạn. Phát triển các ngành nghề sản xuất các sản phẩm phục vụ khách tham quan du lịch.

- Thương mại: Quy hoạch mạng lưới chợ nông thôn, hình thành chợ đầu mối nông sản, hải sản. Bên cạnh hệ thống chợ nhanh chóng hình thành và củng cố các trung tâm thương mại như: thị trấn Sịa, thị tứ Thanh Hà (Quảng Thành), thị tứ Tân Xuân Lai (Quảng Thọ), thị tứ Sơn Tùng (Quảng Vinh), thị tứ Chợ Nịu (Quảng Thái), thị tứ Vĩnh Tu (Quảng Ngạn).

4. Phát triển các lĩnh vực xã hội

Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo; từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng công tác Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội nhằm cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

- Đến năm 2005 không còn hộ đói, tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 7%, đến năm 2010 cơ bản không còn hộ đói nghèo.

- Giáo dục đào tạo: Củng cố kết quả phổ cập trung học cơ sở cho dân số trong độ tuổi từ 15-20, phấn đấu đến năm 2010 có 80-90% số xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THPT trong độ tuổi. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25% vào năm 2005 và 30% vào năm 2010. Đến năm 2010, 100% trường học được kiên cố hoá, tầng hoá.

- Y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân: Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, phấn đấu đến năm 2005, 100% số trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ và nữ hộ sinh trung học hoặc y sĩ sản nhi. Bổ sung thêm các chức danh y học cổ truyền, dược cho tuyến xã; đảm bảo 5-6 bác sĩ và 16 giường bệnh/1 vạn dân năm 2010. Đến năm 2010 có 100% số trạm y tế được kiên cố hoá, 50% số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia. Khống chế tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm, chủ động ngăn chặn và phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 25% vào năm 2005 và dưới 20% vào năm 2010 và cơ bản không còn tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng vì thiếu đói.

- Văn hoá thông tin - Thể dục thể thao: Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh. Giữ gìn phong cách, nếp sống và truyền thống văn hoá của các làng xã, cải thiện và nâng cao đời sống văn hoá cơ sở, nhất là ở vùng đầm phá ven biển. Kiện toàn tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm văn hoá. Phấn đấu đến năm 2005 có 50% và đến năm 2010 có trên 90% số làng được công nhận đạt chuẩn văn hoá.

Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thiết chế văn hoá ở địa phương và cơ sở. Từng bước hoàn chỉnh trung tâm văn hoá, thể dục thể thao của huyện, xây dựng lại hệ thống sân vận động các tiểu vùng và từng xã.

5. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu

- Giao thông vận tải: Cải tạo, nâng cấp tuyến đường quốc lộ 49, nâng cấp các tuyến tỉnh lộ 11A, tỉnh lộ 4, tỉnh lộ 8A. Bê tông hoá 100% đường nông thôn, đường liên thôn, liên xã. Mở thêm một số tuyến trục chính nối Sịa với các trung tâm hành chính - kinh tế như các tuyến Sịa - cầu Huyền Hạc; Sịa - Hương Phong - Tỉnh lộ 8B - Thảo Long - Thuận An - Ca Cút - QL49B; nâng cấp tuyến đường nối Sịa - Phong Thu, Quảng Thái - Phong Hiền; xây dựng mới cầu Quảng Phú - Tứ Hạ (qua sông Bồ) và cầu An Gia - Vĩnh Tu (qua phá Tam Giang).

- Thuỷ lợi:  Khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ lợi hiện có. Củng cố hệ thống đê phá Tam Giang để ngăn mặn và chống lũ tiểu mãn; Xây dựng hệ thống bờ vùng dọc theo sông Bồ. Nâng cấp và xây dựng mới một số trạm bơm tưới Đông Phước 2, Quảng Thọ 3, Mỹ Xá 2, Thâm Điền, Niêm Phò I, Quảng An, hồ Bàu Niên, các trạm bơm tiêu Quảng Thành, Quảng An, Đồng Lâm, Nam Biên, Thống Nhất, Tín Lợi, Bạch Đằng… để đảm bảo cung cấp nước và tiêu úng cho vùng trọng điểm lúa của huyện. Đến năm 2010, cơ bản hoàn thành kiên cố hoá hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

- Hệ thống cấp nước: Các xã vùng dọc theo tỉnh lộ 11A và thị trấn Sịa sử dụng nước của nhà máy nước Tứ Hạ. Phát triển tiếp hệ thống từ Quảng Vinh để cung cấp cho hai xã Quảng Thái và Quảng Lợi; các xã Quảng Thành, Quảng An, Quảng Thọ sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước thành phố Huế. Hai xã Quảng Công, Quảng Ngạn khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm tại chỗ, khi cầu Ca Cút được xây dựng có thể sử dụng nguồn nước lấy từ xã Hương Phong, huyện Hương Trà. Đến năm 2005 đảm bảo cho 75% số hộ và năm 2010 cho 95% số hộ trong huyện được sử dụng nước sạch.

- Hệ thống cấp điện: Đầu tư xây dựng mới tuyến đường điện cao thế dọc theo hai bờ phá Tam Giang (dự kiến tổng chiều dài toàn tuyến là 16 km với 8 trạm biến áp, tổng công suất khoảng 1440 KVA); tuyến đường điện cao thế Thái-Lợi-Vinh (chiều dài khoảng 10 km với 5 trạm biến áp, tổng công suất khoảng 900 KVA). Tiếp tục đầu tư nâng cấp mở rộng  mạng lưới điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt, phấn đấu đến năm 2005 đạt mục tiêu 100% số hộ được dùng điện.

- Bưu chính viễn thông: Tiếp tục mở rộng và hiện đại hoá mạng lưới bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc trong nước và quốc tế nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Xây dựng tổng đài Quảng Thái để đáp ứng nhu cầu phát triển máy thuê bao cho vùng Lợi - Thái. Nâng mật độ điện thoại bình quân trên 100 dân lên 4 - 5 máy vào năm 2005 và 7-9 máy vào năm 2010.

- Vấn dề vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Quản lý, khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng biển-đầm phá đảm bảo vừa có hiệu quả, vừa tái tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái. Áp dụng đồng bộ các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái, tập trung xử lý chống ô nhiễm nguồn nước.  

Qui hoạch các bãi xử lý rác thải rắn ở thị trấn, các điểm dân cư tập trung, các chợ, nhất là vùng chợ ở các thị trấn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong nhân dân về ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và vệ sinh trật tự ở đô thị, nông thôn. 

6. Phát triển mạng lưới đô thị

- Thị trấn Sịa: Chức năng chính là trung tâm hành chính - kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện Quảng Điền, với quy mô diện tích 1.118 ha, ự kiến đến năm 2010 quy mô dân số sẽ là 15.000 người. Trong tương lai cùng với sự phát triển của công nghiệp, du lịch, dịch vụ, quy mô đô thị cũng được mở rộng. Hướng phát triển chủ yếu là bám trục tỉnh lộ 11A và tỉnh lộ 4.

Các trung tâm tiểu vùng sau:

- Thanh Hà (Quảng Thành): Là trung tâm tiểu vùng các xã vùng trọng điểm lúa và nuôi trồng thủy sản Quảng An, Quảng Thành. Chức năng chính là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội trên cơ sở phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, du lịch; công nghiệp TTCN... Dự kiến quy mô dân số đô thị năm 2010 là 3.000 người.

- Tân Xuân Lai (Quảng Thọ): Là trung tâm tiểu vùng của các xã Quảng Thọ, một phần xã Quảng An, Quảng Phú (Quảng Điền) và Hương Xuân (Huyện Hương Trà) với chức năng là trung tâm dịch vụ thương mại, dịch vụ khoa học - kỹ thuật; du lịch; công nghiệp-TTCN. Dự kiến quy mô dân số đô thị năm 2010 là 2.000 người.

- Sơn Tùng (Quảng Vinh): Là thị tứ trung tâm tiểu vùng của các xã Quảng Vinh, Quảng Phú, với chức năng là trung tâm dịch vụ thương mại, dịch vụ khoa học - kỹ thuật, công nghiệp-TTCN. Dự kiến quy mô dân số đô thị năm 2010 là 2.000 người.  

- Chợ Nịu (Quảng Thái): Là thị tứ trung tâm tiểu vùng của các xã Quảng Thái, Quảng Lợi, Phong Chương (Phong Điền), với chức năng là trung tâm dịch vụ thương mại, dịch vụ khoa học - kỹ thuật, công nghiệp-TTCN. Dự kiến quy mô dân số đô thị năm 2010 là 2.000 người.  

- Vĩnh Tu - Lãnh Thủy (Quảng Ngạn): Là trung tâm tiểu vùng của các xã Quảng Ngạn, Quảng Công, với chức năng là trung tâm dịch vụ thương mại, du lịch, công nghiệp-TTCN. Dự kiến quy mô dân số đô thị năm 2010 là 2.000 người.

III. Các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo

1. Gắn phát triển trước mắt với lâu dài, tập trung cho nông nghiệp. Từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển nông lâm ngư nghiệp dựa vào khai thác những lợi thế sẵn có của vùng đồng bằng, vùng cát nội đồng, vùng đầm phá ven biển. Tập trung phát triển công nghiệp, TTCN, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản; công nghiệp cơ khí sửa chữa và tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống. Phát triển dịch vụ, du lịch trên cơ sở khai thác những thế mạnh về vị trí địa lý, về cảnh quan thiên nhiên, về di tích lịch sử cách mạng... tạo động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác trên địa bàn huyện.

2. Huy động mọi nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng về mạng lưới giao thông, mạng lưới điện và đặc biệt là các công trình thủy lợi để tạo khả năng tăng trưởng nhanh cho nền kinh tế.

3. Đảm bảo sự phát triển bền vững cả về kinh tế và xã hội, gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội. Đặc biệt quan tâm đến vấn đề tạo công ăn việc làm cho người lao động. Coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao xem đó nguồn lực phát triển quan trọng có tính quyết định. Thực hiện xã hội hoá sự nghiệp Giáo dục đào tạo, Y tế, Thể dục thể thao. Không ngừng nâng cao trình độ dân trí của dân cư, đặc biệt là dân cư nông thôn, vùng ven phá, ven biển. Đẩy mạnh chương trình xoá đói giảm nghèo, thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn. Giải quyết tốt các chính sách xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng trong huyện, từng bước giảm dần khoảng cách chênh lệch GDP bình quân đầu người của huyện so với toàn tỉnh.

4. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ nền văn hoá truyền thống, bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá lịch sử và chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường sinh thái. Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục môi trường.

5. Kết hợp chặt chẽ việc phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc an ninh nội địa, đảm bảo công tác phòng thủ trên đất liền và trên biển. Tăng cường khả năng phòng chống thiên tai bão lụt.

IV. Những giải pháp chủ yếu

1. Giải pháp huy động vốn đầu tư

- Thực hiện thu chi ngân sách hợp lý, thực hành tiết kiệm để tăng tích luỹ, chủ động nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phấn đấu hàng năm dành từ 10-15% ngân sách Huyện để đầu tư cho công trình sự nghiệp và hạ tầng đô thị. Tranh thủ sự hỗ trợ từ các nguồn ngân sách Nhà nước cấp trên cho xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết xoá đói giảm nghèo, các công trình phúc lợi công cộng, giao thông đô thị v.v..

- Huy động nguồn lực trong nhân dân, các cơ quan đơn vị trên địa bàn theo phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường, trồng cây xanh và các công trình công cộng khác.

- Tạo môi trường đầu tư thông thoáng để đẩy mạnh thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong tỉnh, các doanh nghiệp trong và ngoài nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế.

- Phát triển chi nhánh ngân hàng liên xã, thành lập các quỹ tín dụng nhân dân với mục tiêu hỗ trợ vốn cho phát triển sản xuất để hình thành các vùng sản xuất hàng hoá.

2. Phát triển nguồn nhân lực

- Đổi mới chính sách tổ chức, thông qua công việc để lựa chọn, bố trí, sử dụng  phát huy tốt năng lực nội tại của đội  ngũ cán bộ, chuyên viên, lao động trong bộ máy Nhà nước và trong xã hội.

- Coi trọng công tác giáo dục-đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nhân tài trong hàng ngũ cán bộ, nhân viên công tác quản lý Nhà nước và quản lý kỹ thuật. Có qui hoạch, đào tạo để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý doanh nghiệp.

- Chú trọng đào tạo lực lượng lao động một cách thiết thực và cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hội nhập quốc tế. Phối hợp Sở  Lao động Thương binh và Xã hội đào tạo và tìm thị trường xuất khẩu lao động với quy mô 300-500 lao động/năm. Dành phần đầu tư thích đáng để tăng cường đào tạo lực lượng lao động cao cấp cho tổ chức sản xuất kinh doanh, lao động kỹ thuật bằng kết hợp đào tạo kiến thức quản lý kinh tế, kỹ năng nghiệp vụ với bồi dưỡng nhận thức pháp luật, tri thức đạo đức xã hội, kỷ luật lao động.

- Phối hợp với các trường đại học, trung tâm dạy nghề, các cơ sở sản xuất xây dựng chương trình đào tạo và khuyến khích, thu hút người lao động trên địa bàn tham gia vào các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng lao động đối với những ngành nghề mà địa phương đang cần hoặc có khả năng phát triển.

3. Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đổi mới quản lý

- Phát triển Kinh tế - Xã hội của Huyện đòi hỏi phải chú trọng thích đáng đến Khoa học - Kỹ thuật phục vụ cho các ngành sản xuất, công, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thu hút nhân tài để phục vụ cho nhu cầu phát triển.

- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, chuyển giao công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp và các hộ nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.

- Mở rộng giao lưu với các đối tác trong và ngoài nước về khoa học-kỹ thuật công nghệ, tổ chức tốt hệ thống thông tin. Tăng cường mối liên hệ giữa khoa học công nghệ với sản xuất và thị trường trong và ngoài nước.

4. Phát triển các thành phần kinh tế

- Tổ chức thực hiện tốt Luật Doanh nghiệp, Luật HTX, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài. Mở đường phát triển các loại hình kinh tế, tận dụng nhân lực, vật lực, tài lực đầu tư vào sản xuất  kinh doanh, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của huyện, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo thêm việc làm và thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.

- Phát huy vai trò của chính quyền, cơ quan Nhà nước giúp các đơn vị, thành phần kinh tế tổ chức liên doanh, liên kết, hỗ trợ, hợp tác sản xuất kinh doanh trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi. Khuyến khích phát triển nghề và làng nghề ở thị trấn và các thị tứ. Thực hiện tốt chính sách khuyến công. Tạo điều kiện cho các cá nhân và gia đình chủ động mở nghề, lập nghiệp có sự hỗ trợ và quản lý của các tổ chức và chính quyền địa phương.

- Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tìm kiếm, khai thác thị trường mới cho các sản phẩm của địa phương.

5. Tổ chức thực hiện quy hoạch

Căn cứ vào Qui hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội huyện Quảng Điền đến năm 2010 được phê duyệt, UBND huyện Quảng Điền cần tổ chức thực hiện và vận dụng đồng bộ các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm phát huy cao nhất tiềm năng và nguồn lực của huyện, của tỉnh và Trung ương cho đầu tư phát triển.

Trên cơ sở qui hoạch này, UBND huyện cần nghiên cứu xây dựng các qui hoạch chi tiết, các chương trình phát triển Kinh tế - Xã hội, các dự án ưu tiên đầu tư và từng bước đưa vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm để tổ chức thực hiện.

 
    
Chịu trách nhiệm nội dung: Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế
Tư vấn và phát triển: Công ty cổ phần Eureka